Để được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN đối với các hóa đơn mua vào có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (Bao gồm cả thuế GTGT) thì theo điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào ngoài có hóa đơn chứng từ hợp pháp, hợp lệ, hợp lý thì sẽ phải thanh toán không dùng tiền mặt. Vậy chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là gì? Cùng tìm hiểu bài viết dưới đây nhé!

Căn cứ pháp lý:

–  Điều 15, 16 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn về “Điều kiện khấu trừ thuế GTGT”. TT 219  được sửa đôi, bổ sung bởi Khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC. (Đã được sửa đổi, bổ sung bởi TT 119/2014/TT-BTC và 151/2014/TT-BTC).

– Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC ngày 28/10/2016. – Sửa đổi, bổ sung khổ thứ nhất, khoản 3, Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC. (Đã được sửa đổi, bổ sung bởi các TT 119/2014/TT-BTC, 151/2014/TT-BTC, 26/2015/TT-BTC).

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm:

  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng
  • Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác

1. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC:

Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Chứng từ thanh toán bao gồm: Séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử), hình thức thanh toán khác theo quy định, bao gồm cả trường hợp  bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán.

Điểm mới:

Đã bỏ quy định tài khoản của bên mua và bên bán phải đăng ký và thông báo với cơ quan thuế.

Trước đây, DN phải đăng ký thông tin tài khoản với cơ quan thuế mới được khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý.

Kể từ ngày thông tư 173/2016/TT-BTCcó hiệu lực – ngày 15/12/2016, thì tài khoản ngân hàng của DN không cần đăng ký và thông báo với cơ quan thuế vẫn được khấu trừ và được tính là chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN.

2. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác:

Thứ nhất: Mua HHDV theo hình thức bù trừ giữa giá trị HHDV mua vào và giá trị HHDV bán ra, vay mượn hàng.

Điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí hợp lý:

+  Phương thức thanh toán này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng.

+  Phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ.

Ngoài ra còn cần các giấy tờ như phiếu xuất nhập kho, biên bản giao nhận.

+  Nếu bù trừ công nợ qua bên thứ 3: Phải có biên bản công nợ của 03 (ba) bên.

Thứ 2: Mua HHDV theo hình thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền, cấn trừ công nợ qua người thứ 3.

Điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí hợp lý:

+  Phương thức này quy định cụ thể trong hợp đồng.

+  Phải có hợp đồng vay mượn tiền dưới hình thức văn bản.

+  Phải có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền.

(Bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị HH, DV mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ người mua chi hộ).

Thứ 3: Mua hàng hoá dịch vụ được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng. (Bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định).

Điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí hợp lý:

+  Việc thanh toán uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ 3 này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng bằng văn bản.

+  Bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của Pháp luật.

Lưu ý:

Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

Thứ tư: Mua HH, DV được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

Ví dụ : Công ty A mua hàng của Công ty B và Công ty A đang còn nợ tiền hàng của Công ty B. Tuy nhiên Công ty B đang còn nợ tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Căn cứ Luật Quản lý thuế, cơ quan thuế thực hiện thu tiền, tài sản của Công ty B do Công ty A đang nắm giữ để thi hành quyết định hành chính thuế thì khi Công ty A chuyển tiền vào tài khoản thu ngân sách cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.

Tổng hợp bởi VinaTas – Đại lý Thuế

Previous PostNext Post

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *