Cơ sở pháp lý

Căn cứ điểm c khoản 4 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan thuộc đối tượng không chịu thuế.

Căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng hàng rào cứng, bảo đảm điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.

Căn cứ khoản 5 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ quy định thủ tục thay đổi mục đích sử dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng sau đó thay đổi mục đích sử dụng, chuyển tiêu thụ nội địa thì phải khai từ khai hải quan mới. Chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan mới trừ trường hợp đã thực hiện đầy đủ chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại thời điểm đăng ký tờ khai ban đầu.

Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định DNCX được bán, thanh lý vào thị trường nội địa tài sản đã qua sử dụng và các hàng hóa theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan. Tại thời điểm bán, thanh lý vào thị trường nội địa không áp dụng chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện quản lý theo điều kiện, tiêu chuẩn, kiểm tra chuyên ngành chưa thực hiện khi nhập khẩu; hàng hóa quản lý bằng giấy phép thì phải được cơ quan cấp phép nhập khẩu đồng ý bằng văn bản.

Căn cứ Điều 74 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 50 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định chung đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của DNCX.

Căn cứ Điều 79 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 55 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 quy định DNCX được lựa chọn hình thức chuyển đổi mục đích sử dụng hoặc làm thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ khi thanh lý hàng hóa.

Ví dụ: Tổng cục Hải quan hướng dẫn việc xử lý đối với tài sản thanh lý của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam theo công văn 4067/TCHQ-TXNK như sau:

– Đối với hàng hóa, thiết bị được mua từ nội địa (không làm thủ tục hải quan) hoặc hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu nhưng đã thực hiện đầy đủ chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hóa nhập khẩu theo quy định như hàng hóa nhập khẩu không hưởng chế độ, chính sách áp dụng đối với DNCX tại thời điểm đăng ký tờ khai ban đầu: Khi mua bán, thanh lý hàng hóa này với doanh nghiệp nội địa, DNCX không phải làm thủ tục hải quan.

– Đối với hàng hóa, thiết bị có nguồn gốc nhập khẩu áp dụng chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hóa đối với DNCX: Thực hiện thủ tục thanh lý theo quy định tại Điều 79 Thông tư số 38/2015/TT-BTC, DNCX được lựa chọn hình thức chuyển đổi mục đích sử dụng hoặc làm thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ khi thanh lý hàng hóa. Trường hợp DNCX lựa chọn hình thức thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ theo quy định tại Điều 86 Thông tư số 38/2015/TT-BTC thì DNCX thực hiện thủ tục xuất khẩu tại chỗ; doanh nghiệp nội địa thực hiện thủ tục nhập khẩu tại chỗ, nộp các loại thuế theo quy định. Tại thời điểm thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ không áp dụng chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện quản lý theo điều kiện, tiêu chuẩn, kiểm tra chuyên ngành chưa thực hiện khi nhập khẩu ban đầu; hàng hóa quản lý bằng giấy phép thì phải được cơ quan cấp phép nhập khẩu đồng ý bằng văn bản.

– Đối với các tài sản trong gói thầu thi công nội thất văn phòng: Đề nghị Công ty căn cứ hồ sơ thiết kế kỹ thuật của các nhà thầu, các tài liệu có liên quan để thực hiện kê khai, nộp thuế. Riêng đối với vật tư đã tiêu hao trong quá trình thi công (sơn, keo, băng dính…) thì không phải kê khai, nộp thuế.

DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ

Previous PostNext Post

Leave a Reply