Sở Công Thương TPHCM căn cứ pháp lý nào để ấn định thời hạn giải quyết thủ tục thông báo khuyến mại là 3 ngày làm việc?

Căn cứ khoản 3, Điều 22 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại đã giao cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm yêu cầu thương nhân chấm dứt (việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần) chương trình khuyến mại trong các trường hợp sau:

“a) Vi phạm các quy định tại Điều 100 Luật Thương mại và Điều 3 Nghị định này;

b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các nội dung trong thể lệ chương trình khuyến mại đã đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về thương mại có thẩm quyền”.

Cụ thể, Điều 100 Luật Thương mại năm 2005 quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại, gồm:

“1. Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

  1. Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.
  2. Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi.
  3. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.
  4. Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.
  5. Khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khoẻ con người và lợi ích công cộng khác.
  6. Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.
  7. Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.
  8. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
  9. Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mức tối đa theo quy định tại Khoản 4 Điều 94 của Luật này”.

Điều 3 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định về các nguyên tắc thực hiện khuyến mại, gồm:

“1. Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác.

  1. Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết các khiếu nại (nếu có) liên quan đến chương trình khuyến mại.
  2. Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại.
  3. Việc thực hiện khuyến mại phải bảo đảm:

a) Không đưa ra điều kiện để khách hàng được hưởng khuyến mại là phải từ bỏ, từ chối hoặc đổi hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác;

b) Không có sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác.

5. Không được sử dụng kết quả xổ số để làm kết quả xác định trúng thưởng, làm căn cứ để tặng, thưởng trong các chương trình khuyến mại theo hình thức quy định tại Khoản 5, Khoản 6 và Khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại”.

Để thực hiện trách nhiệm được giao tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, Sở Công Thương TPHCM phải xem xét nội dung tất cả Thông báo hoạt động khuyến mại của thương nhân gửi đến Sở, đối chiếu xem có vi phạm các quy định tại Điều 100 Luật Thương mại và Điều 3 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP hay không để xử lý theo 1 trong 2 phương án sau:

Trường hợp không vi phạm, Sở Công Thương sẽ tiếp nhận Thông báo hoạt động khuyến mại của thương nhân và chuyển sang giai đoạn “hậu kiểm”, phối hợp các cơ quan chức năng xem xét quá trình thực hiện nội dung của những Thông báo khuyến mại đó.

Trường hợp phát hiện vi phạm, Sở Công Thương sẽ từ chối tiếp nhận Thông báo hoạt động khuyến mại của thương nhân, để yêu cầu thương nhân chấm dứt (không được thực hiện) chương trình khuyến mại có nội dung vi phạm pháp luật.

Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định: “Thương nhân thực hiện thủ tục hành chính thông báo hoạt động khuyến mại đến tất cả các Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại (tại địa bàn thực hiện khuyến mại) trước khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức quy định tại Khoản 8 Điều 92 Luật Thương mại và các Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14 Nghị định này. Hồ sơ thông báo phải được gửi đến Sở Công Thương tối thiểu trước 3 ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại”.

Vì vậy, trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được thông báo hoạt động khuyến mại, công chức Sở Công Thương phải tập trung xem xét tính hợp pháp của tất cả thông báo hoạt động khuyến mại trước khi “Tiếp nhận” hoặc “Từ chối tiếp nhận” thông báo hoạt động khuyến mại của thương nhân.

DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ

Previous PostNext Post

Leave a Reply